 | Dưới gốc mai ngà ngả bóng, Đại Giác thiền sư bó gối ngồi tư lự ....
Cảnh am thiền vào buổi quá trưa êm đềm tịch mịch; không khí như chẳng mảy may bợn chút trần ai. Trên mặt sân, ánh nắng, xuyên qua lớp lá cổ thụ rườm rà, in loang lổ những vệt sáng chờn vờn, linh động. Thỉnh thoảng, chim bồ các kêu lao xao, kêu mấy tiếng rồi im bẵng, khiến cho cái cảm giác hiu quạnh càng nặng nề ...
Nhưng, lạ thay! Vẻ mặt của Đại Giác thiền sư lúc ấy sao trái hẳn với sự tịch mích xung quanh. Không phải là vẻ mặt tâm niệm của một nhà chân tu tham thiền nhập định. Vẻ mặt ấy là tấm gương phản chiếu một cảnh bão táp trong cõi lòng.
Nhà sư ngồi xếp gấp trên nệm cỏ, hai bàn tay ngửa xếp giữa lòng, xa nom thực, mười phần điềm tĩnh. Khi đến gần, trái lại, ta sẽ phải kinh ngạc vì, dưới hai vệ lông mày cau có, cặp mắt nhà sư cháy ngùn ngụt những căm hờn.
Tâu bệ hạ, Kẻ hạ thần phận là biên trấn, nhưng ngày đêm lúc nào cũng lưu tâm đến việc trong Triều. Những sự lộng quyền của gian tặc Trần Thủ Độ vẫn khiến hạ thần phải thâm gan tím ruột. Nhà Lý ta, từ đức Thái Tổ vâng mệnh Trời mở chính thống, trải tám đời vua giữ nền độc lập cho nước Nam, đánh Tống dẹp Chiêm, uy danh lừng lẫy thiên hạ, ân đực nhuần thấm trăm dân, có lẽ nào nay phải tiêu diệt, về tay một tên mán mường làm nghề đánh cá ở xứ Nam Hạ?
Bệ hạ bỏ ngôi đầu Phật, chính sự bộn bề; một mình Công chúa đảm đương sao chu tất được! Vì vậy, tặc đảng ngày một lộng hành, tôn miết xã tắc ngày một khuynh nguy,loài dê chó ngày một xôn xao ở chốn thềm vàng điện ngọc.
Cái cảnh thương tâm nghịch nhỡn ấy, ai là chẳng căm hờn. Bệ hạ nỡ nào ngoảnh mặt làm thinh để cho cơ nghiệp nhà Lý suy đồi, thần vị tiên vương không được yên ổn?
Kẻ hạ thần, nghĩ mình chịu ân vua lộc nước, đã thề cùng giặc Trần chẳng đội trời chung. Hiện nay một dải Hồng Châu, lương nhiều quân giỏi, hạ thần ngửa mong Bệ hạ mau mau xa giá giáng lâm, để hiệu triệu những kẻ nghĩa khí, vua tôi một phen về Kinh tảo trừ loạn đảng, định lại triều cương, khiến cho nên bình trị lại rực rỡ như xưa thì phúc cho nước nhà và trăm họ biết chừng nào?
Hạ thần đã cắt hai tường tâm phúc là Kiếm Hồn và Lý Hổ theo hộ giá, mong Bệ hạ sớm quyết định cho. Ngoài cõi xa xôi này, sĩ tốt ngày đêm mong thấy mặt trời.
Kính tâu.
Hồng Châu Trấn thủ.
ĐOÀN THƯỢNG bái.
Hai mắt nhà sư càng sáng quắc. Những lời khảng khái trong thư đã khiến tấm lòng nguội lạnh kia bừng lên như lửa. Nhà sư lẩm bẩm:
– Đoàn Thượng nói phải. Cơ nghiệp tổ tiên bảy đời truyền lại, ta nỡ nào để cho đến nỗi tan hoang? Trước kia vì đau yếu luôn, trong lòng chán nản, ta đã nghe lời Thủ Độ bỏ ngôi đi, ta nay mới biết đó là mưu gian của hắn nhưng hối không kịp nữa. Cũng may lòng người còn chưa quên nhà Lý, lại được Đoàn Thượng là kẻ bầy tôi trung dũng, quyết vì ta dựng lại nền nhất thống, ta nhân cơ hội này mạnh bạo khởi sự ngay ngõ hầu khi chết không thẹn với vong hồn các Tiên Đế dưới suối vàng.
Nhà sư nghĩ vậy, vẻ mặt bỗng hồng hào, quả quyết. Những ngày vinh quanh khi trước lại hiện ra trong trí nhớ, những ngày Tổ tiên xưa đánh quân Bắc Tống, thu phục Chiêm Thành, oanh liệt biết chừng nào! ....
Giữa lúc ấy tiếng trống từ xa tiến lại bỗng khiến nhà sư lắng tai nghe. Một chú tiểu chạy vào quỳ bẩm:
– Bạch sư tổ, có xa giá Lý Nương Nương lại hầu.
Nhà sư yên lặng cau mày một lát mới nói:
– Cho vào!
Lý Chiêu Hoàng, ngự thường phục, từ trên ngọc liễn bước xuống. Nàng truyền cung nữ, thị vệ đứng chực ngoài cửa chùa rồi một mình tiến thẳng lại quỳ xuống trước mặt nhà sư:
– Kính lạy vua cha muôn tuổi.
Huệ Tôn (tức Đại Giác thiền sư) giơ tay miễn lễ và hỏi rằng:
– Con lại đây có việc gì?
Chiêu Hoàng đỏ mặt, khẽ tâu:
– Lạy cha, con lại vấn an cha và để xin cha một việc.
– Cho con cứ nói.
– Xin cha cho phép con được cùng Trần Cảnh! ....
Huệ Tôn bỗng nghiến răng:
– Trần Cảnh! .... à, con muốn kết duyên cùng Trần Cảnh? ... Con có biết Thủ Độ nó đang muốn cướp ngôi nhà Lý chăng? Họ Trần là thù của ta. Hiện nay cha sắp lẻn ra Hồng Châu, cùng Đoàn Thượng đem quân về Thăng Long chu diệt chúng nó, lại thèm kết thông gia với chúng nó à?
Chiêu Hoàng sợ hãi, cúi đầu, yên lặng.
Huệ Tôn ngước mắt nhìn đi, bỗng Ngài để ý đến hai con chim câu đang xù lông rỉa cánh cho nhau ở trên cành đại. Nghĩ đến đức hiếu sinh của Tạo Hóa, Huệ Tôn từ từ quay lại nhìn con. Chiêu Hoàng vẫn chắp tay cúi đầu đứng yên.
Nàng đứng yên nhưng hai hàng lệ vẫn lặng lẽ tràn ướt cặp má đào. Huệ Tôn thở dài. Một mối buồn man mác tự dưng tràn ngập linh hồn ông vua già thất thế, dập tắt mọi nỗi oán hờn khi nãy cùng cái trí hoạt động cương cường.
Huệ Tôn nghĩ thầm:
“Ta tuổi già sức yếu rồi, lại không có con trai, cháu xa cháu gần cũng không, chỉ được một mình Lý Chiêu Hoàng là gái. Chiêu Hoàng nối ngôi ta, trước sau thế nào cũng xuất giá, ngôi báu sẽ nhường cho chồng. Kẻ kia dù là Trần Cảnh hay người nào khác nữa cũng vậy thôi. Mà, điều đó biết đâu chẳng là dụng ý của Cao Xanh? ...
“Nay, nếu ta ép Chiêu Hoàng phải cự tuyệt cùng Trần Cảnh, chẳng qua chỉ khổ lòng con trẻ mà vị tất đã có ích lợi gì cho ai. Trong cõi hồng trần này, sự khổ não đầy rẫy, ta còn tạo thêm sự khổ não làm gì? Huống hồ kẻ bị khổ não ấy lại chính là con ta! Đã đành rằng nhân duyên nghiệp chướng, nhưng hiện nay hai trẻ yêu nhau, nếu được như nguyện tất nhiên chúng lấy làm sung sướng lắm.
Sự sung sướng ấy chỉ là cái ảo mộng, kẻ u mê đã lấy làm đủ thì còn nói gì!”.
Rồi nhân đấy, Huệ Tôn nghĩ sang việc khởi nghĩa cho Đoàn Thượng:
“Trấn thủ Hồng Châu trung nghĩa đáng khen, nhân tâm còn ái mộ nhà Lý đáng cảm thực. Tuy vậy, xưa nay công danh phú quý, giấc mộng kê vàng. Trăng tròn rồi phải khuyết, mặt trời lên cao rồi phải tà. Thịnh suy là lẽ nghìn đời, ai làm thế nào tránh được! Nước Nam trải bao nhiêu họ làm vua, ai đã giữ mãi được quyền chủ tể. Huống hồ ta tuổi già lại không con trai nối nghiệp, phỏng thử đem binh về Thăng Long, giết được Thủ Độ, gây lấy oai quyền khi trước nhưng sau một vài năm ta chết đi, cơ nghiệp ấy để cho ai? Để cho người họ khác. Quanh quẩn cũng như chuyện. Thế mà bỗng dưng nổi cuộc binh đao, làm phí bao nhiêu mạng sĩ tốt, đuổi theo một cái hư ảnh để cho muôn dân phải lầm than, tội ác ấy, ta biết tu mấy kiếp mới đủ đền bồi?
“Thôi thôi, sớm tỉnh ngộ đi là hơn! Sắc sắc không không, lời Phật đã dạy, ta nên ghi lấy làm lòng, tỉnh giấc mê si, dứt vòng nghiệt chướng họa may thoát khỏi kiếp luân hồi”.
Huệ Tôn nghĩ vậy, trong lòng thấy khoan khoái, thảnh thơi. Sự thù oán tiên tán, nhường chỗ cho lòng từ bi mông mênh bát ngát.
Quay lại, Ngài hỏi Chiêu Hoàng:
– Câu ta nói vừa rồi là do sự tức giận một lúc, con đừng lấy làm buồn. Việc nhân duyên của con, ta sẵn lòng tán trợ, chỉ mong cho con được sung sướng mà thôi.
Chiêu Hoàng cảm động, thụp xuống lạy.
Huệ Tôn đỡ nàng đứng lên, nói:
– Thủ Độ lòng tham, mưu cướp nhà Lý, kể thực đánh trách xong cũng lại là ý trời. Nay con kết duyên với Trần Cảnh, rồi nhường ngôi cho chồng, lòng tham của Thủ Độ đã thỏa, tắt hẳn không làm sự gì ác nữa.
Ngừng một lát, Huệ Tôn lại nói:
– Và Thủ Độ kể ra cũng có công to với cha. Này khi loạn đảng tung hoành, ngôi tôn nghiêm đổ cha theo Tiên Đế chạy xuống miền Nam. Lúc ấy, nếu chẳng nhờ Thủ Độ cứu giúp thì cơ nghiệp nhà Lý không những tan nát từ lâu mà đến thân ta cũng khó lòng toàn vẹn, còn đâu có ngày nay! .... Thôi, cho con lui về.
Chiêu Hoàng cúi đầu lễ tạ vua cha đoạn lên ngọc liễn hồi cung.
Nàng vừa đi khỏi thì, trên tam quan, chú tiểu bắt đầu thỉnh hồi chuông chiêu mộ. Tiếng đồng, lanh lảnh buồn rầu như chấm mấy nét cùng tận sau sự liên lác của Huệ Tôn với trần ai khổ hạnh. Đêm hôm ấy, Chiêu Hoàng thức rất khuya. Những lời Huệ Tôn nói về Trần Cảnh khiến nàng đau đớn, tuy về sau Huệ Tôn đã bằng lòng sự thỉnh cầu của nàng.
Chiêu Hoàng tin chắc tấm lòng yêu của Trần Cảnh là thuần túy, thiết tha, không bợn mảy may danh lợi, cũng như ái tình của nàng đối với Trần Cảnh vậy.
Nhưng, Chiêu Hoàng không khỏi ân hận sao Trần Cảnh lại là cháu của Thủ Độ.
Nàng không muốn cho ai, nhất là Huệ Tôn, phụ thân nàng, phải ngờ vực người nàng yêu quý, người mà nàng cho là hoàn toàn.
Chiêu Hoàng nhớ lại vẻ căm hờn của Huệ Tôn lúc thoạt nghe nói đến tên Trần Cảnh và cái giọng ngậm ngùi của Huệ Tôn lúc ưng thuận việc hôn nhân của hai người.
Nàng thở dài, cặp mắt buồng rầu mơ mộng nhìn ngọn sáp lung lay trước ngọn gió khuya lọt kẽ rèm châu. Tiếng lá rụng ngoài song, tiếng trùng kêu âm ỉ như gọi tâm hồn nàng tới những cõi tưởng tượng mịt mù. Nàng ngã lòng, nàng ngờ vực, nàng không chắc ở mai sau nữa:
cuộc đời mai sau sáng tươi rạng rỡ đã bị bóng đen của Trần Thủ Độ che mờ đi. Nàng ngại ngùng thấy mình phải sống bên cạnh một người nham hiểm như thế. Nàng càng sợ hãi vì chính người ấy cầm hạnh phúc và vận mệnh của nàng.
... Trống lầu thong thả điểm ba canh. Cơn dông tố bên ngoài càng mạnh.
Ngọn sáp vàng gần hết, cháy bùng lên rồi chập chờn muốn tắt. Chiêu Hoàng vừa toan truyền thị nữ thay ngọn khác, bỗng thấy cửa son khẽ động rồi một người đàn ông cao lớn, dữ tợn bước sấn vào cửa phòng.
Chiêu Hoàng kinh sợ thất sắc, chưa hiểu chuyện gì thì người lạ đã phủ phục trước long sàng:
– Nương nương vạn xá cho mạt tướng đã hành động tới Thánh cung ...
Chiêu Hoàng hơi vững lòng, phán hỏi:
– Ngươi là ai, đêm khuya vào đây ý định làm gì?
– Tâu Nương nương, tướng quân Đoàn Thượng đang dự bị rước xa giá Thượng hoàng ra Hồng Châu để mưu việc thảo phạt gian tặc Trần Thủ Độ.
Người có ủy cho mạc tướng tâu riêng với Nương nương hãy đình việc hạ giá lại.
Khi việc lớn đã thành công, Thượng hoàng sẽ xét nếu Trần lang quả là bậc chính nhân quân tử thì, lúc ấy, Nương nương thỉnh chiếu hạ giá cũng chưa muộn, Bằng nay hấp tấp, e rồi nhầm chăng! ....
Chiêu Hoàng giận, nghĩ thầm:
“Nhà ngươi chớ nói nhảm, ta khi nào nhầm!”.
Nàng vội ngắt lời viên tướng lạ:
– Thánh Ý đức Thượng hoàng là không muốn gây việc binh đao lưu huyết để tai hại cho muôn dân. Người lại đã ưng cho ta hạ giá cùng Trần lang rồi. Các ngươi, là phận bầy tôi, không nên nghịch mệnh vua.
Viên tướng kinh hãi nhưng cũng tâu:
– Thánh Ý đức Thượng hoàng, cúng tôi vẫn không dám trái; tấm lòng từ bi hỉ xả của đứng Thượng hoàng, chúng tôi rất cảm động mà nghĩa vụ của chúng tôi, chúng tôi vẫn không thể quên:
cái nghĩa vụ ấy là giết gian thần. Cơ nghiệp của đức Thái Tổ không nên để mất về tay gian ác bất lương.
– Ngươi nói cũng có lý, nhưng ta e vẽ hổ không thành để uổng mạng biết bao nhiêu anh hùng trung nghĩa mà thôi. Cái công dã tràng ấy nên thương biết chừng nào!
– Được chết vì vua, vì nước là sự vẻ vang cho con nhà võ tường, thần đẳng há dám tiếc đời! ....
– Vẫn hay rằng các ngươi trung nghĩa đáng khen, nhưng mệnh trời dễ trái được ru? Không phải là ta không biết xót cơ nghiệp Tổ Tôn đâu. Nhưng ta không nỡ trông thấy các người khi thất bại.
Viên tướng chưa kịp đáp, bên ngoài vụt có tiếng xô xát, rồi tiếng người kêu.
Giật mình, viên tướng lạ đứng phắt dậy, nói:
– Kiếm Hồn nguy mất rồi! Xin kính lạy Nương nương, mạt tướng đi đây.
Lý Hổ (vì chính hắn) tuốt gươm vừa toan xông ra cứu bạn thì cửa cung đã mở toang, Thủ Độ dẫn bọn dũng sĩ ùa vào.
Thủ Độ hét:
– Giết cho hết quân phản nghịch đi!
Lý Hổ cũng chẳng vừa, đáp lại:
– Chính mày là phản nghịch còn bảo ai là phản nghịch, thằng kia?
Nói đoạn, chàng múa gươm xông lại. Thủ Độ truyền các bộ tướng bắt sống cho kỳ được Lý Hổ. Chàng không nao lòng, hăng hái cự địch. Thủ hạ của họ Trần bị chém ngã có đến bảy tám người. Cuộc đánh nhau rất hăng hái!
Chỉ vì trong cung cấm không tiện đường tháo lui và sức một người có hạn nên dần dần Lý Hổ bị hãm vào một thế rất nguy.
Chiêu Hoàng đứng nhìn hai bên xô xát, lòng lo sợ cho Lý Hổ không biết chừng nào. Thốt nhiên, nàng tái mặt, choạng vạng suýt ngã. Thì ra, Lý Hổ lúc ấy đã mỏi mệt lắm, biết cơ không toàn được tính mệnh nữa, chàng bèn kêu to lên rằng:
– Xin bái biệt Nương nương từ đây. Kẻ hạ thần lúc sống chưa trừ được giặc, khi chết sẽ xin thu hồn bắt vía gian tà!
Nói đoạn, Lý Hổ quay mũi gươm thích mạnh vào cuống họng. Bọn võ sĩ nhảy lại cướp gươm không kịp. Chàng ngã vật xuống, máu tươi phun ra đỏ thẩm cả mặt đất.
Thủ Độ tức giận, truyền quân lôi xác Lý Hổ ra ngoài đoạn quay lại nói với Chiêu Hoàng:
– Để Nương nương phải kinh sợ, hạ thần tội thực đáng muôn thác.
Chiêu Hoàng gượng cười – Khanh có tội gì? Chẳng qua tự ý các người ấy tìm đến chỗ chết đó mà thôi.
Nói dứt lời, nàng lui sang cung bên cạnh, tránh cái cảnh tượng thương tâm.
Thủ Độ lẩm bẩm:
– Hai thằng này chắc hẳn là tay sai của Đoàn Thượng. Không biết chúng nó mưu sự gì với nhau? Ấy may mà ta sớm biết, nếu không thì còn đủ mà khó chịu với chúng nó!
Tên nữ nhạc lúc ấy tự ngoài chạy vào. Thủ Độ mừng rỡ hỏi:
– Chúng nó vào tự bao giờ, và sao mày biết?
– Trăm lại Tướng công, lúc ấy con túc trực ở bên phòng Ngự. Không thấy Nương nương truyền dạy việc gì, con ngồi buồn thiu thiu ngủ chợt nghe tiếng cửa cung động mạnh. Thoạt tiên con tưởng gió, vội đứng lên để khép cửa lại thì thoáng trông thấy một người quỳ xuống trước long sàng đang nói gì ... Con lắng tai nghe mới hay Đoàn Thượng sai hắn ta về đón Huệ Tôn và xin Chiêu Hoàng đình việc hạ giá ...
– Chiêu Hoàng bảo sao?
– Nương nương bảo ý Thượng hoàng không muốn sinh sự nên đã cho Nương nương cùng Trần lang ...
Thủ Độ không chờ nghe hết, cau mày, trợn mắt:
– À, ra thế! Huệ Tôn mà còn sống ngày nào lũ chuột còn vin vào hắn để xuẩn động ngày ấy. Ta phải sớm trừ đi mới xong! ....
Trong một gian phòng kín, ba người đàn ông xì xào bàn tán với nhau những chuyện gì ghê gớm lắm thì phải, vì nét mặt người nào cũng lộ vẻ bí mật khác thường.
Người ngồi giữa nhỏ nhắn hơi gầy; đầu chít khăn thiên thanh; mình vận áo vóc tía thêu rồng. Khuôn mặt quắt như hai ngón tay chéo; nước da vàng xỉn; cặp môi thâm khuất bóng trong bộ râu rậm đỏ với hai mắt đưa đẩy nhanh như chớp tỏ ra một tính nết giảo hoạt, thâm độc lạ lùng. Ngồi bên tả người mặc áo tía là một võ tướng cao lớm mặt vuông, mắt xếch, da đen, cử chỉ rất đột ngột, trái hẳn với vị nho sĩ ở phía hữu lạnh lùng, ít nói nhưng rất đáng sợ vì cặp mắt lươn trắng dã với cái cách cười nụ thảm thê.
– “Thế nào”, người khăn xanh nói, “các ông liệu việc ấy có nên không?”.
Vị nho sĩ mắt lươn cười nhạt:
– Tướng công bàn giam Huệ Tôn lại một chỗ, chúng tôi e có nguy hiểm về sau. Đánh rắn không dập đầu là một việc thấp cơ đáng trách. Cứ ý ngu của chúng tôi thì ta giết phăng ngay hắn đi là êm chuyện.
– Đã đành giết đi thì kẻ khác không còn vin vào đâu mà quấy rối được nữa, nhưng việc nếu không làm theo, để lộ tiếng tăm ra ngoài thì lại càng dễ gây công phẫn vô cùng.
Sau câu ấy, gian phòng bỗng im lặng, cái im lặng hãi hùng của sự chết. Hồi lâu, người mắt lươn ngẩng đầu nhìn lên, quả quyết nói dằn từng tiếng một:
– Không thể lộ chuyện được! Chúng tôi có một cách làm cho câu chuyện ấy kín như bưng ...
Người khăn xanh hớn hở:
– Cách nào?
– Bẩm Tướng công, nếu Huệ Tôn tự tử thì bên ngoài còn ai trách ta được?
– Tôi không hiểu!
– Nghĩa là đêm nay chúng tôi xin thân hành vào chùa thăm Huệ Tôn. Chúng tôi sẽ buộc sẵn một sợi dây lên xà nhà, đoạn mời Huệ Tôn chui đầu vào thòng lọng để sang cõi đời bên kia.
– Thế ngộ hắn không chịu? Thế ngộ hắn kêu cứu?
Giơ hai bàn tay xương xương mà cứng như sắt, người mắt lươn ra hiệu bóp mạnh một vật gì rồi vừa cười vừa nói rằng:
– Chúng tôi sẽ dùng hai bàn tay này chẹn vào cổ họng nhà sư kỹ cho đến lúc hắn tắt thở bấy giờ tiểu tướng sẽ nhắc treo hắn lên đây.
Cử tọa đều cười.
Người bên tả nói:
– Ông bàn thế kể cũng đã giỏi, nhưng việc tự sát ấy có khỏi cho thiên hạ cứ ngờ được chăng?
– Nếu chỉ có thế thì người ta cứ ngỡ là phải. Nhưng, nếu khi chết đi, Huệ Tôn có chủ bút để lại, nói rằng vì chán cảnh trần ai khổ lụy, và không muốn kẻ khác lấy mình làm cớ cho những cuộc đổ máu sau này nên sớm phải từ trần ...
– Có lời di chúc ấy thì còn gì bằng! ....
– Sao lại không?
Vừa nói, người mắt lươn vừa lấy ra hai tờ giấy trải lên mặt bàn. Một tờ màu vàng, có đóng dấu song, thủ bút cũ của Huệ Tôn Hoàng Đế khi còn ở ngôi. Một tờ màu trắng, đại ý Huệ Tôn kể cái nguyên do sự tự sát của mình.
Người khăn xanh ngạc nhiên:
– Huệ Tôn viết tờ này từ bao giờ?
Cười một cách đắc chí, người mắt lươn đáp:
– Tờ này là tự chúng tôi viết hộ đức Hoàng đế ta!
Một tiếng cười giòn đang tiếp theo câu nói ấy thì cửa phòng xịch mở, một võ tướng bước vào quỳ lạy và bẩm rằng:
– Bẩm Tướng công, sứ giả đã tự Hồng Châu trở về.
Người khăn xanh, vội nói:
– Cho vào ta hỏi, mau!
Viên tướng lùi ra, một lát dẫn sứ giả tới.
– Thế nào, tình hình Đoàn Thượng ra làm sao?
– Bẩm Tướng công, hắn ta có ý chán nản khi được tin Lý Hổ và Kiếm Hồn bị giết, Huệ Tôn từ chối việc xuất bôn. Giữa lúc ấy, tiện tốt đem như Tướng công đến, hắn ta xem xong, suy nghĩ một lát rồi vui vẻ nhận lời.
Quay lại người mắt lươn, vị quan to hỏi:
– Đoàn Thượng nhận lời giảng hòa với ta, ông bảo là thực hay có ý khác?
– Bẩm Tướng công, thực thì nó không thực mà có ý khác nó cũng không nốt.
Chẳng qua vây cánh chết rồi, Huệ Tôn lại chẳng chịu đi xa, hắn thấy mình cô độc nên vộ phải nhận lời để chờ dịp khác.
– Ông nói rất hợp sự phỏng đoán của tôi.
– Kể nó cũng đã khôn ngoan, nhưng nó chui đầu vào cạm mà không biết.
– Phải, nó thấy mình cầu hòa, khỏi sao sinh lòng kiêu hợm, cho rằng mình sợ. Đã kiêu hợm, nó chắc không còn phòng bị gì nữa, ta xuất kỳ bất ý đánh cho một trận là phải tan.
Viên tướng mặt vuông đứng dậy, nói:
– Ta nên trừ ngay Đoàn Thượng vì nó còn sống ngày nào, ta còn phải lo ngày ấy. Một đằng Tướng công nên luôn luôn gửi tặng vật cho nó yên lòng; một mặt Tướng công truyền lệnh điều khiển sĩ tốt, chờ khi Nguyễn Nộn này lẻn ra mai phục mặt sau bấy giờ ta sẽ cùng khởi cuộc đánh giết. Kẻ vô mưu ấy dù có cánh cũng không bay thoát tai ta.
– Hay, kế ấy rất hay! Có những mưu sĩ như các ngươi, Thủ Độ này lo gì chất làm nên việc lớn. Vậy, mai sớm, người nên dẫn một cách đại quân giả cách đi tuần phòng rồi lẻ đường ra phía sau Hồng Châu mai phục sẵn. Lễ đăng quang của Trần Cảnh cử hành xong, ta sẽ cất quân đi ngay.
– Nguyễn Nộn cúi đầu lĩnh mệnh rồi lui ra.
Thủ Độ quay lạii hỏi Phụ Trần:
– Việc ám hại Huệ Tôn sẽ thi hành vào lúc nào?
– Bẩm Tướng công, nên làm ngay đêm nay.
– Ta e bất tiện. Vì, gặp tang ấy, lễ đăng quang của cháu ta tất nhiên phải hoãn mất.
Ngẫm nghĩ một lát, Phụ Trần trả lời:
– Hay là ta chời tới khi lễ đăng quang đã cáo thành? Tất phải như vậy!
Bỗng, tự sau bình phong, một người đàn bà tiến ra nói với Thủ Độ:
– Tướng công ơi, việc ấy thiếp xin can, vì nó tàn nhẫn quá! Vả lại Huệ Tôn đã từ chối lời thỉnh thác của Đoàn Thượng, tỏ ra không có ý gì sinh chuyện cả.
Những kẻ toan mượn tiếng Huệ Tôn để gây sự cùng ta, tôi tưởng sẽ phải ôm đầu nín tiếng hết khi chúng thấy ta đã đánh ta đảng Đoàn Thượng. Huệ Tôn già yếu vô tội, thiếp xin Tướng công dung cho sống nốt cuộc đời thừa!
Thủ Độ quác mắt nhìn Trần Thái hậu:
– Đàn bà đã không biết gì lại còn cứ hay lôi thôi. Mưu việc lớn mà không thẳng tay thì chỉ tổ bày trò cười cho thiên hạ.
Dứt lời, Thủ Độ giũ áo đứng dậy cùng Phụ Trần ra ngoài.
Đứng trơ lại giữa phòng. Trần Thái hậu âm thầm sa nước mắt ... | |